1.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm
2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Tuy nhiên, từ ngày 01/1/2018, một số quy
định mới có hiệu lực thi hành.
Theo đó, từ 01/1/2018, người lao động là người làm
việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; người
lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động
hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc.
Cũng theo quy định của Luật, từ 01/1/2018,
lao động nam từ 31 năm đóng BHXH và lao động nữ 30 năm đóng BHXH sẽ
được hưởng lương hưu tương đương 75 % mức đóng BHXH hàng tháng.
Việc đáp ứng mức lương hưu 75 % theo lộ trình tới
năm 2022, như sau: Từ năm 2019, nam giới phải đủ 32 năm tham gia BHXH, năm 2020
đạt 33 năm, năm 2021 đạt 34 năm và từ năm 2022, nam giới phải có 35 năm đóng
BHXH.
Với nữ giới, sau ngày 01/1/2018 áp dụng đồng loạt
quy định hưởng lương hưu ở mức 75 % khi đủ 30 năm tham gia BHXH và không theo lộ
trình tăng dần như nam giới.
Việc tính tuổi hưu như trên căn cứ vào quy định hiện
hành của Luật lao động: Nam nghỉ hưu ở tuổi 60 và nữ ở tuổi 55.
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm
2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thì từ ngày 01/1/2018, người lao động muốn
hưởng lương hưu tối đa phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) thêm 5 năm nữa. Theo
đó, lao động nữ phải đủ 30 năm, lao động nam là 31 năm mới được hưởng lương hưu
tối đa 75%. Cụ thể, từ 01/1/2018, lao động nữ nghỉ hưu khi đóng
đủ 15 năm BHXH hưởng lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng
BHXH. Từ năm thứ 16 trở đi, mức hưởng BHXH tăng thêm 2%. Đóng đủ 30 năm được
hưởng lương hưu tối đa 75% thay vì 25 năm như hiện nay. Lao động nam hiện đóng 15 năm BHXH hưởng lương hưu
45% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Tuy nhiên, từ 01/1/2018, để hưởng mức
trên, lao động nam phải đóng đủ 16 năm. Theo đó, lao động nam nghỉ hưu trong
năm 2018 đóng đủ 31 năm BHXH hưởng lương hưu tối đa 75% bình quân tiền lương
tháng đóng BHXH. Nếu lao động nam nghỉ hưu từ năm 2019, 2020, 2021 và 2022 trở
đi phải đóng tương ứng 32-35 năm BHXH mới được hưởng 75%. Đến năm 2022 phải
tham gia 20 năm BHXH mới được hưởng mức 45%. Ngoài ra, người lao động nghỉ hưu
trước tuổi thì mỗi năm sẽ giảm 2%
2.
Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây
dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công
sở.
Ngày 27/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị định
139/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây
dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản
xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh
doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở, có hiệu
lực từ ngày 15/1/2018.
Từ ngày 15/1/2018 sẽ có 32 hành vi bị xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; 03 hành vi bị xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật
liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; 27 hành vi bị xử phạt vi
phạm hành chính trong kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử
dụng nhà và công sở.
Mức phạt tiền tối đa
Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh
vực hoạt động đầu tư xây dựng là 1.000.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa trong
lĩnh vực khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản
xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh
doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở là
300.000.000 đồng.
Ngắt hoa, dẫm lên thảm cỏ công
viên bị phạt đến 1 triệu đồng
Theo Nghị định, người có hành vi đục khoét, đóng
đinh vào cây xanh, tự ý ngắt hoa, cắt cành cây, lột vỏ thân cây, phóng uế hoặc
có hành vi khác làm hư hỏng cây xanh, vườn hoa, thảm cỏ sẽ bị phạt cảnh cáo
hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng. Trước đây, hành vi trên chỉ
bị phạt tiền tối đa đến 500.000 đồng.
Mức phạt nêu trên cũng được áp dụng đối với hành vi
giăng dây, giăng đèn trang trí, treo biển quảng cáo hoặc các vận dụng khác vào
cây xanh ở những nơi công cộng, đường phố, công viên không đúng quy định; Xây
bục bệ bao quanh gốc cây ở đường phố, công viên…
Vi phạm hành chính về xây dựng
có thể bị phạt đến 1 tỷ đồng
Nghị định quy định đối với hành vi xây nhà ở không
che chắn hoặc có che chắn nhưng để rơi vãi vật liệu xây dựng xuống các khu vực
xung quanh hoặc để vật liệu xây dựng không đúng nơi quy định, cũng sẽ bị phạt
cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng.
Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh
vực hoạt động đầu tư xây dựng là 1 tỷ đồng; trong lĩnh vực khai thác, chế
biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật
liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản,
phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở là 300 triệu đồng.
Mức
phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với tổ chức (trừ
một số trường hợp). Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt
tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.
3. Nghị định số 140/2017/NĐ-CP
về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán
bộ khoa học trẻ
Ngày
05/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 140/2017/NĐ-CP về chính sách thu
hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, có
hiệu lực từ 20/1/2018.
Nghị
định quy định cụ thể từng đối tượng, tiêu chuẩn áp dụng chính sách thu hút, tạo
nguồn cán bộ. Cụ thể, sinh viên tốt nghiệp đại học loại xuất sắc tại cơ sở giáo
dục đại học ở trong nước hoặc nước ngoài được công nhận tương đương về văn
bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật có kết quả học tập và rèn luyện
xuất sắc các năm học của bậc đại học, trong độ tuổi quy định tại Ðiều 1 Luật
Thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) tính
đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển và đáp ứng một trong các tiêu chuẩn Đạt giải
ba trở lên tại kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh; giải khuyến khích trở lên tại kỳ
thi học sinh giỏi quốc gia; bằng khen trở lên trong kỳ thi học sinh giỏi quốc
tế thuộc một trong các môn khoa học tự nhiên & khoa học xã hội ở cấp THPT; Đạt
giải ba trở lên tại cuộc thi khoa học - kỹ thuật quốc gia hoặc quốc tế ở cấp
THPT hoặc bậc đại học; Đạt giải ba trở lên tại cuộc thi Olympic thuộc các môn
toán, vật lý, hóa học, cơ học, tin học hoặc các chuyên ngành ở bậc đại học được
Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận.
Ðối với
người có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ nội trú, dược sĩ
chuyên khoa cấp I chuyên ngành y học, dược học trong độ tuổi quy định tại Ðiều
1 Luật Thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi)
tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn: một trong
các tiêu chuẩn (Đạt giải ba trở lên tại
kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh; giải khuyến khích trở lên tại kỳ thi học sinh
giỏi quốc gia; bằng khen trở lên trong kỳ thi học sinh giỏi quốc tế thuộc một
trong các môn khoa học tự nhiên & khoa học xã hội ở cấp THPT; Đạt giải ba
trở lên tại cuộc thi khoa học - kỹ thuật quốc gia hoặc quốc tế ở cấp THPT hoặc
bậc đại học; Đạt giải ba trở lên tại cuộc thi Olympic thuộc các môn toán, vật
lý, hóa học, cơ học, tin học hoặc các chuyên ngành ở bậc đại học được Bộ Giáo
dục & Đào tạo công nhận); Tốt nghiệp đại học loại khá trở lên và có
chuyên ngành đào tạo sau đại học cùng ngành đào tạo ở bậc đại học.
Việc tuyển
dụng được thực hiện thông qua hình thức xét kết quả học tập và nghiên cứu;
Phỏng vấn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Sau khi
được tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp phải tập sự trong ít nhất là 03 tháng và
không quá 12 tháng. Trong thời gian tập sự, sinh viên được hưởng 100% mức lương
và phụ cấp tăng thêm. Mức lương đối với sinh viên dao động từ hệ số lương 2,34
đến 3,00. Phụ cấp tăng thêm bằng 100% mức lương theo hệ số hiện hưởng.
4.
Nghị định 141/2017/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định mức lương tối thiểu
vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Ngày 07/12/2018, Chính phủ ban hành Nghị định
141/2017/NĐ-CP về việc quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động
làm việc theo hợp đồng lao động, có hiệu lực từ ngày 25/1/2018.
Theo Nghị định, từ ngày
01/1/2018, lương tối thiểu vùng tăng 6,5%. Mức
lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như
sau: Mức 3,98 triệu đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thuộc
vùng I; Mức 3,53 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng
II; Mức 3,09 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng III và
mức 2,76 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp trên địa bàn vùng IV.Trong
khi đó, trước đây, mức lương tối thiểu được quy định lần lượt là 3,75 triệu
đồng/tháng; 3,32 triệu đồng/tháng; 2,9 triệu đồng/tháng và 2,58 triệu
đồng/tháng. Như vậy, mức lương tối thiểu vùng mới cao hơn mức lương cũ khoảng
180.000 - 230.000 đồng/tháng.
Nghị
định nêu rõ, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nào thì áp dụng mức lương
tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó. Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị,
chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì
đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy
định đối với địa bàn đó.
Doanh
nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất nằm trên các địa bàn có
mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối
thiểu vùng cao nhất.
5. Nghị định 06/2018/NĐ-CP quy
định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với
giáo viên mầm non
Ngày
05/1/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 06/2018/NĐ-CP quy định chính sách hỗ
trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non, có
hiệu lực từ ngày 20/2/2018.
Hỗ
trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo
Theo
Nghị định, từ ngày 20/2/2018, trẻ em đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở
giáo dục mầm non bảo đảm một trong những điều kiện: Có cha mẹ hoặc có cha hoặc
có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt
khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi
ngang ven biển, hải đảo; Không có nguồn nuôi dưỡng; Là nhân khẩu trong gia đình
thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sẽ được hỗ trợ tiền ăn trưa bằng 10% mức lương
cơ sở/trẻ/tháng.
Thời
gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.
Phương
thức hỗ trợ do lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban
đại diện cha mẹ trẻ em để lựa chọn thực hiện theo một trong hai
phương thức: Phương thức 1 là cơ sở giáo dục mầm non giữ lại kinh phí
hỗ trợ để tổ chức bữa ăn cho trẻ em; Phương thức 2 là chi trả trực
tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.
Giáo
viên mầm non công lập, dân lập đều được hỗ trợ tài liệu và chi phí
tập huấn
Giáo
viên mầm non dân lập, tư thục (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng) được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham
gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Mức
hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên
công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ.
6. Thông tư 14/2017/TT-NHNN về
việc quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng
giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
Từ ngày
1/1/2018, lãi suất tính lãi được quy đổi theo lãi suất năm, một năm được xác
định là 365 ngày.
Thời
gian qua, cách tính lãi nói trên thực hiện theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN
từ năm 2001, có những vướng mắc, cũng như có thay đổi trong các văn bản pháp lý
mới ban hành. Trong đó, vướng mắc chính là quy định về số ngày trong một năm
tại Quyết định 652 chưa thống nhất với Luật Dân sự hiện hành và số ngày thực tế
trong năm.
Ngoài
ra, thông tư mới cũng quy định tổ chức tín dụng được thỏa thuận với khách hàng
xác định thời hạn tính lãi theo một trong hai phương pháp: phương pháp bỏ ngày
đầu, tính ngày cuối của thời hạn tính lãi (theo quy định tại Điều 147 và Điều
148 Bộ Luật Dân sự) hoặc phương pháp tính ngày đầu, bỏ ngày cuối của thời hạn
tính lãi.
Tổ chức
tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về mức lãi suất, phương pháp tính lãi
phù hợp với quy định của pháp luật về nhận tiền gửi, cấp tín dụng và quy định
tại thông tư này.
Về yêu
cầu minh bạch phương pháp tính lãi và mức lãi suất tính lãi, đối với các khoản
tiền gửi, cấp tín dụng sử dụng hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung
trong giao kết thỏa thuận nhận tiền gửi, cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải:
Thực hiện minh bạch thông tin về hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch
chung theo quy định pháp luật về nhận tiền gửi và cấp tín dụng; Phải niêm yết
công khai thông tin về phương pháp tính lãi tại trụ sở và đăng tải trên trang
thông tin điện tử của tổ chức tín dụng (nếu có). Trước khi thực hiện giao dịch,
tổ chức tín dụng phải cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng về phương pháp
tính lãi và mức lãi suất tính lãi.
Trường
hợp có thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về phương pháp tính lãi
trước ngày 01/01/2018, được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký kết
phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm ký kết.
7. Thông tư 03/2018/TT-BGDĐT
của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết
tật
Ngày
29/1/2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Thông tư 03/2018/TT-BGDĐT
quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật, có hiệu lực từ ngày
16/3/2018.
Mục tiêu giáo
dục hòa nhập đối với người khuyết tật được Thông tư này quy định để người khuyết
tật được phát triển khả năng của bản thân, được hòa nhập và tăng cơ hội đóng
góp cho cộng đồng và đảm bảo quyền học tập bình đẳng, chất lượng và phù hợp với
đặc điểm, khả năng của người khuyết tật.
Một lớp
học hòa nhập không quá 2 học sinh khuyết tật
Theo Thông
tư, các cơ sở giáo dục thực hiện giáo dục hòa nhập sắp xếp, bố
trí các hớp học phù hợp với người khuyết tật; đảm bảo mỗi lớp
học hòa nhập có không quá 02 người khuyết tật. Trường hợp đặc biệt,
thủ trưởng cơ sở giáo dục căn cứ vào điều kiện thực tế có thể sắp
xếp, bố trí thêm người khuyết tật trong một lớp học để đảm bảo
những người khuyết tật có nhu cầu học hòa nhập đều được đi học.
Người
khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi nhập học
quy định; Được học tập trong các cơ sở giáo dục phù hợp với trình
độ và năng lực; được quan tâm, tôn trọng và bảo vệ, đối xử bình
đẳng trong học tập, trong các hoạt động giáo dục để phát triển khả
năng cá nhân… Đồng thời, phải thông tin tình hình sức khỏe, khả năng
học tập, đề xuất nhu cầu hỗ trợ với gia đình, cơ sở giáo dục khi
cần thiết.
Trách nhiệm của
UBND các cấp về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật.
Thông tư quy
định Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiện về giáo dục hòa nhập đối với người
khuyết tật như sau:
Đối với UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Thực hiện quy hoạch hệ thống trung tâm hỗ
trợ phát triển giáo dục hòa nhập đáp ứng nhu cầu can thiệp sớm và giáo dục hòa
nhập tại địa phương; Thực hiện nghiêm túc chính sách về giáo dục hòa nhập theo
quy định, ban hành các chính sách của địa phương về giáo dục hòa nhập; Chỉ đạo
thực hiện chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển giáo dục hòa nhập tại địa
phương. Đảm bảo ngân sách và các điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất, phương
tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học, đồ chơi đáp ứng yêu cầu chăm sóc, can thiệp sớm
và giáo dục hòa nhập; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên, nhân
viên đáp ứng yêu cầu chất lượng giáo dục hòa nhập của địa phương; Chỉ đạo Ủy
ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đảm bảo các điều kiện
tối thiểu đáp ứng yêu cầu giáo dục hòa nhập tại địa phương. Huy động các nguồn
lực từ cộng đồng, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước hỗ trợ thực hiện
giáo dục hòa nhập tại địa phương. Chỉ đạo các ban, ngành phối hợp với ngành
giáo dục điều tra, phát hiện, can thiệp sớm và thực hiện có hiệu quả giáo dục
hòa nhập tại địa phương. Kiểm tra việc thực hiện các quy định về giáo dục hòa
nhập tại địa phương.
UBND quận,
huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: Chỉ đạo phòng giáo dục và đào tạo, Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) thực hiện hiệu
quả chính sách giáo dục hòa nhập theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; vận
động và tổ chức, tạo điều kiện để người khuyết tật học hòa nhập tại cơ sở giáo
dục. Chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển giáo dục
hòa nhập tại địa phương. Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quy định
về giáo dục hòa nhập tại địa phương.
UBND cấp xã
chỉ đạo các ban, ngành phối hợp với cơ sở giáo dục trên địa bàn Điều tra, phát
hiện, can thiệp sớm và thực hiện có hiệu quả giáo dục hòa nhập tại địa phương.
8. Thông tư 75/2017/TT-BTNMT quy định về bảo
vệ nước dưới đất
Ngày
29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư
75/2017/TT-BTNMT quy định về bảo vệ nước dưới đất, có hiệu lực từ ngày
12/2/2018.
Thông tư quy
định các nguyên tắc bảo vệ nước dưới đất, cụ thể:
Một là, bảo vệ nước dưới đất
lấy phòng ngừa làm chính, chú trọng việc bảo vệ nguồn nước dưới đất tại khu vực
bị khai thác quá mức hoặc bị suy thoái nghiêm trọng, các vùng cấm, vùng hạn chế
khai thác, các khu vực cấp nước sinh hoạt, khu đô thị, khu, cụm công nghiệp,
khu chế xuất, làng nghề, khu dân cư tập trung, các vùng khan hiếm nước, các khu
vực nước dưới đất có nguy cơ bị cạn kiệt, ô nhiễm, xâm nhập mặn và các khu vực
có nguy cơ bị sụt, lún đất.
Hai
là,
bảo vệ nước dưới đất phải gắn với khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả
tài nguyên nước dưới đất; gắn với các hoạt động bảo vệ nguồn nước mặt, bảo vệ
môi trường, bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên.
Ba là, bảo vệ nước dưới đất
phải xem xét, thực hiện ngay trong giai đoạn lập các quy hoạch có liên quan đến
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Đối với các dự án đầu tư có hoạt động
liên quan đến thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất hoặc có hoạt động liên
quan đến thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất hoặc hoạt động có liên quan
đến thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất thì việc bảo vệ nước dưới đất phải
được thực hiện trong giai đoạn lập dự án đầu tư.
Các yêu cầu về
thiết kế, thi công giếng khoan khai thác nước dưới đất; yêu cầu về thiết kế,
thi công giếng khoan thăm dò, điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất, khảo
sát địa chất công trình, thăm dò địa chất, thăm dò, khai thác khoáng sản, xử lý
nền móng công trình, tháo khô mỏ và giếng đào; yêu cầu bảo vệ nước dưới đất khi
thực hiện thí nghiệm trong giếng khoan cũng được quy định chi tiết tại Thông tư
này.
Bên cạnh đó,
đối với các vấn đề bảo vệ nước dưới đất trong quá trình khai thác, chủ công
trình khai thác nước dưới đất có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh xung quanh giếng
khai thác và thực hiện các biện pháp phòng, chống, ngăn ngừa ô nhiễm nước dưới
đất qua giếng khoan khai thác; đối với công trình khai thác nước dưới đất phục
vụ mục đích cấp nước sinh hoạt phải xây dựng bảo hộ vệ sinh của công trình theo
quy định của pháp luật về tài nguyên nước; Chủ công trình khai thác thuộc trường
hợp phải có giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất tổ chức lắp đặt thiết bị,
bố trí nhân lực thực hiện việc quan trắc lưu lượng, mực nước, chất lượng nước tại
các giếng khai thác, giếng quan trắc của công trình bảo đảm thông số, hình thức
và chế độ quan trắc để cung cấp, cập nhật số liệu vào hệ thống giám sát khai
thác, sử dụng tài nguyên nước của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của
pháp luật về tài nguyên nước.
Việc quan trắc
mực nước tại giếng quan trắc của công trình khai thác phải thực hiện tối thiểu
tại 01 giếng đối với công trình khai thác nước dưới đất có lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm đến dưới
5.000 m3/ngày đêm; tối thiểu tại 02 giếng đối với công trình khai thác nước dưới
đất có lưu lượng từ 5.000 m3/ngày đêm đến dưới 10.000 m3/ngày đêm; tối thiểu tại
03 giếng đối với công trình khai thác nước dưới đất có lưu lượng từ 10.000
m3/ngày đêm trở lên.
Đối với
giếng khoan có thời gian dự kiến hoạt động từ 02 năm trở lên thì
phải thực hiện việc chống ống và trám cách ly. Ngoài ra, cần phát hiện,
xử lý, khắc phục các hiện tượng, sự cố bất thường về chất lượng nước, mực nước
trong quá trình khai thác và các sự cố khác do hoạt động khai thác của mình gây
ra; trường hợp xảy ra sự cố thì phải dừng ngay việc khai thác, kịp thời xử lý,
khắc phục sự cố, bồi thường thiệt hại (nếu có); thông báo kịp thời tới Ủy ban
nhân dân cấp xã và Sở Tài nguyên và Môi trường nơi xảy ra sự cố và báo cáo cơ
quan cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất.
Khi chèn
cách ly, sử dụng đất sét tự nhiên hoặc vật liệu có tính chất thấm
nước tương đương đất sét xung quanh thành giếng khoan và ống chống tạm
thời. Trong phạn vi bán kinh tối thiểu 01m xung quanh miệng giếng khoan
phải được gia cố, tôn cao bằng đất sét tự nhiên hoặc các vật liệu
chống thấm khác.
Đồng thời, tổ chức, cá nhân xử lý nền móng
công trình chỉ được sử dụng các vật liệu được phép sử dụng theo quy định của
pháp luật; không sử dụng nước thải, nước bẩn, nước có chứa dầu mỡ, hóa chất
độc hại làm dung dịch khoan hoặc pha trộn dung dịch khoan để đưa vào
giếng.